GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
Qualification:Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
Fields/Area of Specialization:Khoa học Kỹ thuật;Giáo dục và Đào tạo;Quy hoạch;
NGUYỄN NGỌC TRÂN, sinh ngày 06.01.1940, quê quán ở An Giang, sang Pháp du học năm 1959, tốt nghiệp Tiến sĩ cấp ba (1963), Tiến sĩ nhà nước khoa học (1970) tại Đại học Sorbonne, là nghiên cứu viên tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS), giáo sư Đại học Poitiers trước khi về Việt Nam năm 1976. Khi còn ở Pháp ông là Tổng thư ký của Hội Liên hiệp Trí thức Việt Nam tại Pháp, và Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Từ khi về nước, ông lần lượt giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, là Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Hiệu trưởng trường, được phong Giáo sư năm 1980; đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Trưởng ban Việt kiều trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Chính phủ (1992-1996), Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (1996-1997), Đại biểu Quốc Hội (1992-2007), Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007). Ông là đồng Chủ tịch năm phiên họp của Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam – Pháp về hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật, từ 1982 đến 1992, đã ký kết các dự án thành lập Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thực nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hợp tác giữa INP Grenoble với ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; thành lập Trung tâm đào tạo Pháp – Việt về Quản lý (CFVG), và Chương trình đào tạo bác sĩ FFI (Faisant Fonction d’Interne). Ông đã được Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cử làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long" (1983-1990). Ban Việt kiều Trung ương đã tổ chức Hội nghị Việt Kiều Xuân Quý Dậu 1993, đã cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỹ XXI Xuân Giáp Tuất. Năm 1994 Ban Việt Kiều Trung ương được tổ chức lại thành Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Chính phủ. Ông là Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (Assemblée Parlementaire de la Francophonie), và được bầu là Phó chủ tịch của Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (1997-2007). Ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1977-1994), là ủy viên rồi chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (1992 -2017). Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, Huy chương vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương vì Thế hệ trẻ, Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao. Ông đã nhận được những tặng thưởng nước ngoài: Officier de la Légion d’Honneur của Cộng hòa Pháp, Huân chương Lao động hạng Nhất của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Commandeur rồi Grand Officier de la Pléiade, Ordre de la Francophonie. Từ khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2008, ông trở về với hoạt động khoa học. Các lĩnh vực ông quan tâm là Giáo dục và đào tạo, Biến động của vùng Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các đập thủy điện ở thượng nguồn, và Phát triển bền vững của đồng bằng.

Content Distribution

ABSTRACTS VIEWS

96

VIEWS & DOWNLOAD

0

Top Country :

Showing results 1 to 10 of 34
  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2019)

  • After April 1975, the Vietnamese Mekong Delta (VMD) and the whole country in general, immediately embarked on the reconstruction and development. At that time, there was an embargo against Vietnam and the peace had not come to two ends in the Northern and the Southwest borders. The delta has been also exposed to the global climate change and the consequences of upstream water uses. Economic, social and livelihood transformation leads to environmental changes. How is the development of the VMD during the past 44 years and what to do for stable economic growth, protected environment, and constantly improved material and spiritual lives of the people, especially after the Government's Re...

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2017)

  • Theo Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2018, dự án Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học dự kiến sẽ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 và thông qua tại Kỳ họp thứ 6. Sau khi rà soát, Bộ Giáo dục - Đào tạo đề xuất sửa đổi, bổ sung 38/73 điều của Luật hiện hành. Các chuyên gia cho rằng những đề xuất sửa đổi này là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ để giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển, hội nhập của đất nước. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu loạt bài của Gíáo sư Nguyễn Ngọc Trân xung quanh dự thảo Luật này.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2020)

  • Với chiều dài khoảng 6,5 km sông Vàm Nao có một vị thế đặc biệt trong hệ thống sông ngòi và bức tranh thủy văn đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết này qua quá trình theo dõi ảnh vệ tinh và số liệu đo đạc nêu lên một số nhận xét và đề xuất liên quan đến dòng chảy sông Hậu tại ngã ba Vàm Nao.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2019)

  • Tại Hội nghị ngày 18.06.2019 đánh giá hai năm triển khai Nghị quyết 120, báo cáo của một số Bộ ngành cho thấy xu hướng triển khai công tác theo phân vùng của MDP, thậm chí còn cho rằng cách phân vùng đó “thể hiện trong Nghị quyết 120/NQ-CP”. Bài viết này chỉ ra cách phân vùng của MDP có nhiều điểm cần làm sáng tỏ, nó phản ánh tư duy phát triển ĐBSCL “trước Nghị quyết 120” và có nguy cơ kéo lùi Nghị quyết. Cần sớm xác lập một cách phân vùng khác để ĐBSCL phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

  • item.jpg
  • Tài liệu Hội nghị, hội thảo (Proceedings)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2010)

  • Lying at the edge of the Lower Mekong Basin (LMB) in contact with the East Sea, the Mekong delta is one of the most threatened deltas by the global climate change. The Vietnamese part of the delta (VMD), where live nearly 20 million inhabitants, must face a double challenge of this phenomenon, one coming from the upstream, the other, from the sea whose actions are intensified, in particular by the rise of its level. Fig.1.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2018)

  • Mekong is an international river. This assertion is necessary by the fact that the Mekong river seems to be split in two: a Lancang river in the Chinese territory on the Upper Mekong Basin being exploited separatedly without any consideration on the impacts on the Mekong river in the Lower Mekong Basin, and the remaining part flowing across Myanmar, Laos, Thailand, Cambodia and Vietnam. If the Mekong Committee, in the context of 1957, consisted only of Cambodia, Laos, Thailand and Vietnam, and only managed waters in the Lower Mekong Basin is understandable, then the Mekong River Commission, in 1995, continued to expand to the same member states and to restrict to the same Lower basin,...

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2015)

  • Data of water levels at coastal hydrological stations during 26 years (1988 - 2013) show that sea-level rise is already a reality in the Mekong Delta. Construction of dams on the mainstream will reduce the sediment deposition in the delta. Together with uncontrolled sand, gravel and pebble extraction in the Lower Mekong Basin, it will aggravate the deficit of sediment balance in the delta, cause riverbank erosion, change the morphology of riverbed and estuaries, and lead shoreline erosion. Beside the land compaction, natural and due to intensive agriculture, excessive exploitation of groundwater, namely in Ca Mau peninsula, will contribute to the land subsidence. Diminution of mela...

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021)

  • Bài viết này tiếp theo bài “Quan điểm phát triển vùng ĐBSCL. MDIRP quy hoạch gì cho thời kỳ (2021-2030)” 2 trong khung khổ góp ý với Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Dự thảo Quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng sông Cửu Long (MDIRP, Tiểu Dự án 6, được tài trợ từ Ngân hàng Thế giới), cũng với nhận thức MDIRP cần tích hợp ý kiến của cộng đồng xã hội, đặc biệt của các chuyên gia am hiểu ĐBSCL.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021)

  • Đoạn sông Tiền mà bài viết này khảo sát sự biến động từ năm 1979 đến năm 2020, đi từ biên giới Việt Nam – Campuchia tại xã Vĩnh Xương thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đến Thành phố Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp. Đoạn sông chảy qua một vùng mà cao trình, đặc biệt hai bờ, là tương đối cao so với cả đồng bằng. Đầu mùa mưa, mực nước sông Tiền lên cao dần, đạt đỉnh tại Tân Châu vào cuối tháng 9, đầu tháng 10. Nước sông tràn qua đê ven sông và gây ngập một vùng rộng lớn hai bờ hữu và tả ngạn. Chế độ thủy văn này, địa hình lòng sông và trầm tích mà sông Tiền mang theo đã tạo nên sự biến động của đoạn sông mà chúng ta khảo sát.

 GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
author picture
Qualification: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
Fields/Area of Specialization: Khoa học Kỹ thuật;Giáo dục và Đào tạo;Quy hoạch;
NGUYỄN NGỌC TRÂN, sinh ngày 06.01.1940, quê quán ở An Giang, sang Pháp du học năm 1959, tốt nghiệp Tiến sĩ cấp ba (1963), Tiến sĩ nhà nước khoa học (1970) tại Đại học Sorbonne, là nghiên cứu viên tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS), giáo sư Đại học Poitiers trước khi về Việt Nam năm 1976. Khi còn ở Pháp ông là Tổng thư ký của Hội Liên hiệp Trí thức Việt Nam tại Pháp, và Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Từ khi về nước, ông lần lượt giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, là Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Hiệu trưởng trường, được phong Giáo sư năm 1980; đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Trưởng ban Việt kiều trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Chính phủ (1992-1996), Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (1996-1997), Đại biểu Quốc Hội (1992-2007), Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007). Ông là đồng Chủ tịch năm phiên họp của Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam – Pháp về hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật, từ 1982 đến 1992, đã ký kết các dự án thành lập Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thực nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hợp tác giữa INP Grenoble với ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; thành lập Trung tâm đào tạo Pháp – Việt về Quản lý (CFVG), và Chương trình đào tạo bác sĩ FFI (Faisant Fonction d’Interne). Ông đã được Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cử làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long" (1983-1990). Ban Việt kiều Trung ương đã tổ chức Hội nghị Việt Kiều Xuân Quý Dậu 1993, đã cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỹ XXI Xuân Giáp Tuất. Năm 1994 Ban Việt Kiều Trung ương được tổ chức lại thành Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Chính phủ. Ông là Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (Assemblée Parlementaire de la Francophonie), và được bầu là Phó chủ tịch của Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (1997-2007). Ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1977-1994), là ủy viên rồi chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (1992 -2017). Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, Huy chương vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương vì Thế hệ trẻ, Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao. Ông đã nhận được những tặng thưởng nước ngoài: Officier de la Légion d’Honneur của Cộng hòa Pháp, Huân chương Lao động hạng Nhất của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Commandeur rồi Grand Officier de la Pléiade, Ordre de la Francophonie. Từ khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2008, ông trở về với hoạt động khoa học. Các lĩnh vực ông quan tâm là Giáo dục và đào tạo, Biến động của vùng Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các đập thủy điện ở thượng nguồn, và Phát triển bền vững của đồng bằng.
Showing results 1 to 10 of 34
  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2019)

  • After April 1975, the Vietnamese Mekong Delta (VMD) and the whole country in general, immediately embarked on the reconstruction and development. At that time, there was an embargo against Vietnam and the peace had not come to two ends in the Northern and the Southwest borders. The delta has been also exposed to the global climate change and the consequences of upstream water uses. Economic, social and livelihood transformation leads to environmental changes. How is the development of the VMD during the past 44 years and what to do for stable economic growth, protected environment, and constantly improved material and spiritual lives of the people, especially after the Government's Re...

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2017)

  • Theo Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2018, dự án Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học dự kiến sẽ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 và thông qua tại Kỳ họp thứ 6. Sau khi rà soát, Bộ Giáo dục - Đào tạo đề xuất sửa đổi, bổ sung 38/73 điều của Luật hiện hành. Các chuyên gia cho rằng những đề xuất sửa đổi này là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ để giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển, hội nhập của đất nước. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu loạt bài của Gíáo sư Nguyễn Ngọc Trân xung quanh dự thảo Luật này.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2020)

  • Với chiều dài khoảng 6,5 km sông Vàm Nao có một vị thế đặc biệt trong hệ thống sông ngòi và bức tranh thủy văn đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết này qua quá trình theo dõi ảnh vệ tinh và số liệu đo đạc nêu lên một số nhận xét và đề xuất liên quan đến dòng chảy sông Hậu tại ngã ba Vàm Nao.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2019)

  • Tại Hội nghị ngày 18.06.2019 đánh giá hai năm triển khai Nghị quyết 120, báo cáo của một số Bộ ngành cho thấy xu hướng triển khai công tác theo phân vùng của MDP, thậm chí còn cho rằng cách phân vùng đó “thể hiện trong Nghị quyết 120/NQ-CP”. Bài viết này chỉ ra cách phân vùng của MDP có nhiều điểm cần làm sáng tỏ, nó phản ánh tư duy phát triển ĐBSCL “trước Nghị quyết 120” và có nguy cơ kéo lùi Nghị quyết. Cần sớm xác lập một cách phân vùng khác để ĐBSCL phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

  • item.jpg
  • Tài liệu Hội nghị, hội thảo (Proceedings)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2010)

  • Lying at the edge of the Lower Mekong Basin (LMB) in contact with the East Sea, the Mekong delta is one of the most threatened deltas by the global climate change. The Vietnamese part of the delta (VMD), where live nearly 20 million inhabitants, must face a double challenge of this phenomenon, one coming from the upstream, the other, from the sea whose actions are intensified, in particular by the rise of its level. Fig.1.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2018)

  • Mekong is an international river. This assertion is necessary by the fact that the Mekong river seems to be split in two: a Lancang river in the Chinese territory on the Upper Mekong Basin being exploited separatedly without any consideration on the impacts on the Mekong river in the Lower Mekong Basin, and the remaining part flowing across Myanmar, Laos, Thailand, Cambodia and Vietnam. If the Mekong Committee, in the context of 1957, consisted only of Cambodia, Laos, Thailand and Vietnam, and only managed waters in the Lower Mekong Basin is understandable, then the Mekong River Commission, in 1995, continued to expand to the same member states and to restrict to the same Lower basin,...

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2015)

  • Data of water levels at coastal hydrological stations during 26 years (1988 - 2013) show that sea-level rise is already a reality in the Mekong Delta. Construction of dams on the mainstream will reduce the sediment deposition in the delta. Together with uncontrolled sand, gravel and pebble extraction in the Lower Mekong Basin, it will aggravate the deficit of sediment balance in the delta, cause riverbank erosion, change the morphology of riverbed and estuaries, and lead shoreline erosion. Beside the land compaction, natural and due to intensive agriculture, excessive exploitation of groundwater, namely in Ca Mau peninsula, will contribute to the land subsidence. Diminution of mela...

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021)

  • Bài viết này tiếp theo bài “Quan điểm phát triển vùng ĐBSCL. MDIRP quy hoạch gì cho thời kỳ (2021-2030)” 2 trong khung khổ góp ý với Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Dự thảo Quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng sông Cửu Long (MDIRP, Tiểu Dự án 6, được tài trợ từ Ngân hàng Thế giới), cũng với nhận thức MDIRP cần tích hợp ý kiến của cộng đồng xã hội, đặc biệt của các chuyên gia am hiểu ĐBSCL.

  • item.jpg
  • Bài báo (Article)


  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021)

  • Đoạn sông Tiền mà bài viết này khảo sát sự biến động từ năm 1979 đến năm 2020, đi từ biên giới Việt Nam – Campuchia tại xã Vĩnh Xương thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đến Thành phố Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp. Đoạn sông chảy qua một vùng mà cao trình, đặc biệt hai bờ, là tương đối cao so với cả đồng bằng. Đầu mùa mưa, mực nước sông Tiền lên cao dần, đạt đỉnh tại Tân Châu vào cuối tháng 9, đầu tháng 10. Nước sông tràn qua đê ven sông và gây ngập một vùng rộng lớn hai bờ hữu và tả ngạn. Chế độ thủy văn này, địa hình lòng sông và trầm tích mà sông Tiền mang theo đã tạo nên sự biến động của đoạn sông mà chúng ta khảo sát.